Nhím

01/03/2013

Nhím

Nhím đã xuất hiện cách đây 15 triệu năm và phân bố ở nhiều nơi trên thế giới. Ở Việt Nam, theo sách “Danh mục thuốc quý hiếm ở Việt Nam” thì ta có 3 loại nhím: Nhím đuôi ngắn, Nhím Klos và Nhím bờm. Tuy nhiên, theo các chuyên gia động vật học, nhóm nhím chủ yếu ở Việt Nam là Nhím bờm (Acanthion subcristatum).

Người Thái gọi chúng là Tô mển; người Dao gọi là Điền dạy. Đặc điểm dễ nhận nhất là trên gáy của chúng có một đám lông mọc dài hơn và dựng lên như một cái bờm.
Ngoài ra, người ta cho biết, trên thế giới còn hai nhóm nhím khác nữa là nhím Nam Phi và nhím Bắc Mỹ. Nhím bờm của Việt Nam phân bố khá rộng, từ các tỉnh phía Bắc vào tới tỉnh Khánh Hòa. Tuy nhiên, cũng có thể bắt gặp nhím ở Đắc Nông, Đắc Lắc, Đồng Nai. Như vậy, có thể coi như nhím đã có mặt ở hầu hết khắp các tỉnh có đồi gò, núi non ở nước ta.
Trong bộ gặm nhấm, nhím bờm là loài to nhất. Nó nặng trung bình từ 15 – 20kg. Thậm chí có con nặng tới 26kg (ngang với 1 con chó béc - gê). Chiều dài cơ thể từ đầu cho tới mút đuôi dài tới gần 1 mét. Mình nó tròn, đầu to, mõm ngắn và đi lại lặc lè, nặng nề. Tuy nhiên, khi có động, nó chạy rất nhanh.

Giống với nhiều loài gặm nhấm khác, chúng có 4 chiếc răng cửa mọc nhô ra vừa dẹt, vừa sắc. Các răng này có thể giúp nhím gặm được cả xương động vật, cắn nát hạt các quả nang (như mơ, mai, mận), cắn nát cả thân cây…
Mắt nhím như mắt chuột và hai tai của chúng thì lại nhỏ xíu.
Nhím có hai đôi chân. Chân chúng ngắn, 2 chân sau ngắn hơn hai chân trước. Bộ móng rất sắc và cứng, mọc dài ra và trở thành công cụ đào bới của chúng.
Đặc điểm đặc sắc nhất của nhím là bộ lông. Khi mới sinh ra, các lông của nhím trông như những sợi tơ bao lấy cơ thể còn mọng nước của chúng. Sau đó, nước mất dần, da khô lại và các sợi lông dựng đứng lên. Dần dần, các sợi lông đó cứ dài ra và cứng hơn. Tới lúc, cái lông đó sẽ biến thành những cái gai khổng lồ, vừa cứng, vừa sắc nhọn. Có cái lông gai dài tới 30cm. Các lông ở phía sau thường dài hơn. Ở phần bụng, lông biến thành các sợi cứng, ngắn hơn và có màu đen. Phía sau gáy nhím chỉ là một dải lông trắng thường dựng ngược lên như một cái bờm khiến chúng trở nên hung dữ. Còn phần ở đuôi, có những cái lông lại phình to phần đầu mút như một cái cốc. Khi gặp kẻ thù hoặc muốn hăm dọa con khác, nhím sẽ rung đuôi. Các “cốc” đó sẽ va vào nhau và phát ra âm thanh rào rào để đe dọa đối phương. Bộ lông của nhím là vũ khí tự vệ lợi hại.

Khi gặp kẻ thù nhím thường và dựng lông lên như một quả cầu gai khủng khiếp. Có người cho rằng, nhím có thể bắn các lông đó đi. Điều đó không phải. Nó chỉ có thể rũ lông ra xung quanh một cách dễ dàng với cự ly rất ngắn. Khi lông mất rồi, nó có thể mọc ra lông khác.

Nhím hầu như không có dịch bệnh. Hệ tiêu hóa của chúng khác với nhiều loài. Nó có buồng gan rất lớn, chiếm tới 1/3 thể tích của khối nội tạng. Nhím không có mật riêng. Tuyến mật nằm trong gan và trực tiếp mật dạ dày. Vì vậy, dạ dày và ruột nhím rất đắng. Ta khử đắng bằng cách nào cũng không được. Có lẽ, cũng vì vậy mà giun, sán không thể sống nổi trong đường tiêu hóa của nhím. Đây là một ưu thế tuyệt vời so với các động vật hoang dã. Do không bị giun, sán nên chúng rất khỏe mạnh và lớn nhanh.
Bộ lông dày của nhím cũng góp phần cản trở ruồi, muỗi tấn công. Do đó, chúng không bị các bệnh truyền nhiễm.
Quan sát chúng ta thấy, nhím có một tuyến hôi dạng vòng xoắn nằm quanh hậu môn. Chúng tiết ra một chất màu vàng da cam và có mùi rất hôi. Chính nhờ tuyến này mà giữa đại ngàn bao la, chúng có thể xác định được nơi ở của con đực hay con cái qua phân và nước tiểu. Chúng sẽ tìm đến nhau nhờ loại “nước hoa” đặc sắc đó.
b. Tập tính
Nhím thường sống ở những vùng đồi gò hoặc hang hốc vùng núi đá. Người ta thường gặp nhím trong các rừng tre, nứa, các đồi cây lúp xúp dưới chân núi. Nhím cũng hay tìm tới các nương rẫy. Nó đào hang quanh đó để tối tối mò vào tìm cái ăn. Ở những khu núi đá nó thường sống dưới các thung lũng hoặc chân núi. Nó lấy các hang đá hoặc kẽ nứt của đá để làm tổ. Nhím không ưa nơi ẩm thấp, sũng nước hoặc những nơi quang đãng, trống trải. Còn ở các đồi cát chúng đào hang để ở. Nó chọn nơi sườn đồi để khởi sự. Hang của chúng có khi rộng tới nửa mét. Chúng đùn đất ra ngoài và chất thành gờ cao. Đường hang đi nghiêng sâu xuống mặt đất khảng gần 1m rồi chạy ngang. Đoạn này có thể dài tới 5 mét. Cuối đường hầm, nó khoét rộng ra và làm tổ. “Đại bản doanh” đóng ở đây. Nó còn đào thêm nhiều ngách phụ thông lên mặt đất để đề phòng bất trắc. Các cửa này có kích thước nhỏ hơn cửa chính.
Phạm vi hang nhím khá rộng. Chiều dài tổng cộng của hang lên tới 10 – 15m. Nhím luôn nghe ngóng, đề phòng, nếu có kẻ thù thường xuyên qua lại hoặc nhòm ngó là nó bỏ đi chỗ khác và đào một hang mới để ở.
Chúng thường hoạt động vào ban đêm, còn ban ngày thì chui vào hang để ngủ. Hoạt động của chúng còn phục thuộc vào tuần trăng. Chúng thích tối hơn sáng.
Mũi chúng rất thính, dùng để xác định đường đi, lối về. Vì vậy, nhím thường đi theo những lối mòn nhất định dựa vào hơi của chúng để lại.
Nhím là loài vật nhút nhát, sợ sệt. Chúng luôn đề phòng những tiếng động xung quanh và chỉ chui ra khỏi hang khi thật sự yên tĩnh.
Bản năng tự vệ của nhím là thụ động. Nó không hung dữ như các loài khác. Khi gặp nguy hiểm, nó tìm cách lẩn trốn, chui rúc vào hang, kẽ hoặc các bụi rậm. Nếu hết đường rút lui, nó đứng tại chỗ, dậm chân và rung chuông để đe dọa, miệng “khịt khịt” để góp phần ra oai. Nhưng nếu kẻ thù không lùi bước nó buộc phải tấn công. Vũ khí lợi hại chính là bộ lông. Nó xù lên, giương lông tứ phía và hung hãn xông ra. Nó quay lưng lại kẻ thù và bất ngờ chạy lùi để các lông đó cắm và chúng. Những chú chó săn thiện nghệ cũng phải “cáo lui”.

Có người cho rằng, nhím có khả năng bắn các lông đó ra. Theo chúng tôi quan sát thì không phải. Nó chỉ có thể rẩy các lông đó ra quanh người trong phạm vi khoảng 10cm. Các sợi lông này được tuyến nhờn tiết ra ở da làm cho chúng nhẵn bóng và có thể chứa độc tố. Vì vậy, khi bị lông nhím đâm vào, ta cảm thấy rất buốt.
Thức ăn của nhím chủ yếu là các loại củ, quả, rễ cây, thân cây, một số loại côn trùng và giun đất. Nhím hay ra phá các nương rẫy. Các loại thức ăn mà nhím tìm là củ mài, củ đắng, sa nhân, bán hạ, ráy, củ dong giềng dại, chuối rừng, đu đủ, xoan và nhiều loại hoa thảo. Ngoài ra, chúng còn đi thu lượm các loại quả rụng để ăn như: sung, vả, dứa, dọc, muỗm, sấu, dâu da đất, me rừng, vải rừng, trám, gắm, dẻ, gai, chay, ổi, mắc mật .v.v.. Chúng mê nhất là các loại nông sản trên nương rẫy như đậu, lạc, khoai tây, sắn, khoai lang, ngô, khoai sọ, khoai môn, củ từ, bầu, bí, dưa, cà chua, cà rót, dứa và các loại rau xanh. Gặp những cây bụi có quả ở trên cao, nó cắn đứt thân cây, để cây đổ xuống và lấy thức ăn. Chúng hay phá các nương ngô theo kiểu này.
Các thợ săn cho chúng tôi biết, nhím thường ăn tại trận. Chúng gặm ngấu nghiến nên phát ra tiếng sồn sột. Vì vậy, chúng dễ bị phát hiện vị trí ngay trong đêm tối.

Trong tự nhiên, nhím thường sống riêng lẻ. Chỉ tới mùa sinh sản chúng mới tìm tới nhau để cặp đôi. Nhím đực chủ động đi tìm nhím cái. Khi đã gặp được “người tình”, nó mất rất nhiều công để ve vãn. Nó thường chạy lăng xăng quanh nhím cái, đuôi vẫy liên tục. Thỉnh thoảng nó dừng lại, dùng chân cào cao mặt đất. Đôi khi nó tiến sát và vỗ nhẹ lên mình nhím cái rồi lại chạy vòng quanh. Nhím cái không chịu. Nhím đực lại tiếp tục tỏ tình. Phải mất hàng giờ để nhím cái bằng lòng, xếp các lông xẹp xuống và nằm im trên mặt đất để chờ đón cuộc giao hoan diễn ra trong đêm tối mịt mùng.
Nhìn bề ngoài rất khó xác định được nhím đực và nhím cái. Vì vậy, đã có nhiều người nuôi nhím sinh sản mà ghép đực với đực, cái với cái trong một thời gian dài.
Ta có thể xác định được giới tính của nhím khi chúng vừa sinh ra. Ta bắt chúng lên và lật ngược nó ra. Ta quan sát thấy, lỗ sinh dục (nằm phía dưới hậu môn) của con đực tròn và dọc bụng có gân nhỏ, ngắn. Trong lúc lỗ sinh dục của con cái có hình tam giác và dọc bụng không có gân, da mềm hơn. Khi nhím trưởng thành đường gân của con đực to như đầu đũa nằm dọc bụng.
Nếu ta lấy ngón tay ấn nhẹ vào thì đường gân này thò ra. Đấy chính là dương vật của nó. Ở con cái không có đường gân này và vùng bụng giữa hai chân sau, gần lỗ sinh dục, khi ta sờ vào thấy mềm đều.
Nhím cái có 6 vú, chia đều ở hai bên sườn. Khi cho con bú, nhím mẹ thường nằm áp bụng xuống đất để con bú ở hai bên.
Tuổi thành thục của nhím cái thường sớm hơn nhím đực. Vì vậy, ta nên chọn nhím đực già tuổi hơn nhím cái 3 – 5 tháng tuổi hoặc hơn nữa.
Nhím chủ yếu hoạt động mạnh vào ban đêm. Vì vậy, buổi sáng nó ngủ li bì. Có khi ngủ một mạch tới tận 3 – 4 giờ chiều. Giấc ngủ là quan trọng. Ta không nên gây tiếng động mạnh làm chúng mất giấc. Có nơi chỉ cho chúng ăn vào lúc 5 – 6 giờ chiều (còn buổi trưa chỉ cho một ít rau xanh để ăn thêm. Sau đó, chúng lại ngủ tiếp).
Nhím giao phối cả ban ngày và ban đêm. Vì vậy, người nuôi có khi không biết chúng phối vào lúc nào. Mặt khác, biểu hiện của nhím khi bắt đầu có chửa lại không rõ nên ta rất khó phan biệt. Nhưng đến tháng thứ hai sau khi chửa, nó bắt đầu có biểu hiện rõ hơn như: lông sáng bóng, tăng trọng nhanh, nhìn từ trên xuống dưới thấy hai bên bụng có phình to ra, phần bụng gần hai chân sau bạnh ra. Nó hay nằm sấp và duỗi thẳng hai chân sau, hơi thở mạnh và gấp, đi lại chậm chạp. Đến lúc gần đẻ nó có vẻ dữ hơn và ăn uống ít đi. Khi nhím đẻ nó thường kêu “ẹ ẹ..”.
Nhím có thể đẻ hai lứa trong một năm. Thường thường chúng đẻ vào tháng 4 – 5 hoặc tháng 10 – 11. Mỗi lần đẻ được từ 1 – 3con. Đa phần chúng đẻ 1 lần 2 con.
Khi nhím đẻ và nuôi con không cần nhốt chung với nhím đực. Ta tách đực riêng ra. Nhím con lúc đẻ ra chỉ độ 3 – 5 lạng. Nó đã mở mắt được ngay và đi lại dễ dàng. Tuy nhiên, vào những ngày đầu nó thường được mẹ ủ ấm nên ít đi lại. Bộ lông của của nó mau chóng cứng cáp. Những tuần đầu, nó bú sữa mẹ. Cũng có con chỉ đến ngày thứ năm là đã bắt đầu đi tập ăn. Nó hít, ngửi và liếm láp các loại thức ăn của con mẹ. Dần dần, nó cũng đã có thể gặm các loại thức ăn đó.
Tuy nhiên, cũng có con đẻ ra nhưng không biết bú sữa mẹ. Trường hợp này, chúng ta phải can thiệp. Ta cho chúng uống thêm sữa ngoài.
Chỉ khoảng sau một tháng là nhím con đã ăn được thức ăn như con mẹ. Lúc này, nó lớn rất nhanh, có thể nặng tới 1,3 – 1,5kg. Sang tháng thứ 2, chúng đã đạt từ 2,5 – 3kg. Tới tháng thứ 3, thứ 4 thì mỗi con nhím có thể đạt từ 4 -4,5kg. Khi đủ 12 tháng, nhím có thể nặng tới10 kg hoặc hơn nữa. Nhím con thành thục sau khoảng một năm. Nhím đẻ được 2 tháng thì ta tách con ra. Lúc này, ta cho nhím mẹ ghép đực ngay. Nên cho nó giao phối với con đực mà đã ghép đực ngay. Nên cho nó giao phối với con đực mà nó đã “âu yếm” nó lần trước. Việc này rất quan trọng. Các cơ sở đã nuôi đều cho biết: con cái có đặc tính chọn đực. Nó có thể chửa với con đực này mà không thể chửa với con đực kia.
Vì vậy chúng ta phải nhốt riêng, đặt tên cho nó hoặc ghi số cho nó. Mỗi con đực giống nên cho phối với 2 con nhím cái. Cũng có thể cho chúng phối nhiều hơn nhưng khó bố trí thời gian. Thế mới biết, nhím đực cũng…bận rộn lắm! Thường thường, nhím cái ít có con vô sinh.
Vấn đề là ở chỗ nó có gặp được con nhím đực khỏe mạnh, giống tốt và hăng hái hay không. Vì vậy, người nuôi phải quan sát, chọn lọc và tuyển lựa để tạo được đàn giống bố mẹ tiêu chuẩn (như đối với các loài vật nuôi khác). Để tránh cận huyết, khi tách con, ta nên ghép con đực của cặp này với con cái của cặp khác và ngược lại.

Khác với nhiều loại vật nuôi khác, nhím tự đẻ và tự lo liệu. Ta không phải mó tay vào. Con mẹ xử lý rất khéo mọi tình huống. Nó nuôi con rất tốt. Ta chỉ lưu ý, tránh để con con chui sang chuồng của con khác và ngược lại. Khi có trường hợp nhím đẻ 3 hoặc 4 con thì ta phải thực hiện việc tách luân phiên. Ta đưa 1 – 2 con ra ngoài độ 3 giờ, rồi lại thay phiên con khác. Cứ như vậy, trong vòng 10 ngày. Sau đó thì thả chung vào với nhau. Làm như vậy để tránh việc chúng tranh giành chỗ để bú mà có thể cắn nhau bị thương hoặc tử vong. Đối với trường hợp nhím đẻ có 1con mà trong khu nuôi cũng có con khác đẻ 1 con với điều kiện chúng đẻ cách nhau độ 3 – 4 ngày thì ta có thể ghép cho 1 mẹ nuôi chung. Nhưng ta phải quan sát khoảng 15 phút để xem con mẹ ó tiếp nhận con kia không. Nếu thấy con mẹ liếm đít cho con mới và có thái độ âu yếm thì yên tâm. Còn nếu nó xua đuổi và hung dữ thì ta phải đưa nó ra. Còn con mẹ, nếu được tách con thì 15 hôm sau ta coa thể cho chúng giao phối để chửa tiếp. Không biết do ích kỷ hay ghen tuông mà nhím đực luôn tìm cách cắn chết những nhím con mà không phải là con của nó. Đây là điều mà các hộ nuôi nhím rất cần lưu ý để đề phòng.
Chúng tôi đã quan sát thấy hiện tượng: khi nuôi 2 đôi nhím cạnh nhau và có rào ngăn bằng lưới thép, nhím con ở ô này thò chân sang ô của đôi kia thì lập tức bị nhím đực ở đôi kia cắn đứt chân. Vì vậy, ta phải chú ý ngăn cách giữa các ô nuôi cẩn thận. Ngoài ra, các nhím đực do tranh giành nhím cái nên cũng có khi máu ghen nổi lên và xông vào cắn nhau tới chết. Đó là việc thường thấy trong sinh giới ta cần phải để mắt tới.
3. Kỹ thuật nuôi Nhím

a, Chuồng trại
Ta có thể tận dụng các ô chuồng lợn cũ để cải tạo thành chuồng nuôi nhím. Chuồng có nền cứng và có độ nghiêng 30 là điều kiện phù hợp để cải tạo thành chuồng nuôi nhím. Điều cần làm là ta nên nâng độ cao của thành chuồng từ 1 mét trở lên (vì thành của chuồng lợn chỉ độ 0,6 – 0,8 m). Nền chuồng lợn rộng thì ta có thể ngăn ra nhiều ô để nuôi nhím. Nhưng nếu có điều kiện, ta nên xây dựng thành một trại nuôi nhím đàng hoàng. Cần chọn một khu riêng biệt, đất không bị ngập nước và thoáng mát. Ta xây nó như kiểu trại lợn: 2 dãy chuồng nằm ở 2 bên, còn chính giữa là lối đi và vận chuyển thức ăn.

Qua kinh nghiệm của nhiều cơ sở đã nuôi, ta nên làm chuồng bằng lưới thép ô vuông, có đường kính sợi thép chỉ 1mm (không cần làm bằng lưới B40). Mỗi ô chuồng rộng từ 1 – 1,5m và chỉ nên dài tối đa là 1,5m. Trước đây người ta thường để ô chuồng dài 2 m nhưng việc quét dọn rất khó. Vì vậy, mọi người đều cho rằng nên để ô chuồng chỉ dài 1,5m với chều cao của lưới chỉ cần 1 – 1,2m. Ta ngăn thành nhiều ô sát nhau bằng lưới và cọc sắt. Hệ thống cọc cần vững chắc. Tốt nhất là làm bằng sắt 3 cạnh. Có thể hàn luôn lưới thép vào cọc hoặc néo chặt bằng dây thép. Phần phân cách sát mặt đất giữa các ô ta nên xây kín bằng gạch hoặc lấy ván che kín, chỉ cần cao độ 20cm là được, để đề phòng nhím con từ ô này thò chân qua ô khác sẽ bị con đực bên đó cắn. Nền chuồng phải láng xi măng hay lát gạch mộc. Nền cần nghiêng về phía rãnh ở phía sau từ 3 – 50 để dễ thoát nước. Trong chuồng cần có chỗ chứa nước cho nhím uống và chỗ để thức ăn cho nhím. Chuồng phải có mái để che mưa, che nắng. Chuồng nên cao ráo, không nên để mái thấp lè tè.
Ở miền Bắc và Tây Nguyên, vào mùa đông không khí rất lạnh. Vì vậy, cần xây tường hoặc hệ thống bạt để che phủ hướng gió Đông – Bắc. Cố gắng chọn hướng chuồng cho hợp lý để không bị nắng vào mùa hè và không bị gió lùa vào mùa đông. Vì trong điều kiện tự nhiên nhím thường đào hang để ở, cho nên ta cũng chiều chúng một chút. Ta có thể đóng những thùng gỗ nhỏ có một cửa chui vào. Bên trong ta lót rơm khô cho chúng làm ổ. Cũng có cơ sở (như khách sạn Mường Thanh ở Tp. Điện Biên Phủ) họ dùng các ống cống có đường kính 50cm và đặt vào chuồng. Nhím thích chui vào đó cho kín đáo. Nhưng phải chú ý tới việc dọn vệ sinh. Không để nhím tha thức ăn vào đó và để ứ lại. Phía sau chuồng phải có rãnh để thoát nước bẩn, không để nước tù sũng.
Hàng ngày ta dùng vòi phun hoặc múc nước hắt vào để làm vệ sinh chuồng. Không được để thức ăn thừa và phân của nhím lưu cữu trong chuồng, phải hót hoặc dồn hết chúng xuống rãnh và cho chảy ra hồ chứa ở bên ngoài. Dùng chổi cán dài để quét sạch mọi ngóc ngách của chuồng. Luôn giữ cho chuồng nhím được sạch sẽ.
b, Con giống
Con giống nhím không dễ tìm. Một số người đã bẫy được nhím ở rừng hoặc các nương rẫy để đưa về nuôi. Bọn này rất nhát, chúng chỉ tìm chỗ nào kín đáo để chui rúc vào đó. Có khi chúng nằm trong đó vài ngày mà không ló mặt ra. Tập tính của chúng là hoạt động vào ban đêm. Nay lại bị bắt và nhốt lại nên chúng càng sợ sệt. Nếu quá đói thì chúng chỉ lò dò ra vào lúc nửa đêm để kiếm thức ăn, còn suốt ngày chúng nằm im trong hốc. Tuy nhiên, nhím đưa ở trong rừng về cũng thích nghi dần với điều kiện nuôi nhốt. Đặc biệt, nếu có đôi thì chúng dạn hơn. Vài tuần sau, chúng có thể hoạt động vào ban ngày.
Tác động của người nuôi nhím rất có ý nghĩa đối với việc thuần hóa chúng. Mọi tác động của người chăn nuôi luôn luôn phải nhẹ nhàng, từ tốn. Tránh phát ra những tiếng động mạnh hoặc việc xuất hiện đột ngột gây cho chúng hoảng loạn. Nên có các cử chỉ thân thiện để chúng chấp nhận. Đặc biệt, việc hàng ngày thường xuyên cung cấp thức ăn cho chúng là biểu hiện hữu hảo nhất để dần dần chúng thân thiện với người nuôi. Khi đã quen nhau rồi, ta có thể ngồi xem chúng ăn. Thậm chí, có thể mớm thức ăn cho chúng hoặc vuốt ve hay bế chúng lên.
Nếu mua được giống ở các trại nuôi nhím thì tốt nhất. Bọn này đã quen với điều kiện nuôi dưỡng của con người. Chúng cũng thích nghi với hoàn cảnh nuôi nhốt. Vì vậy, việc làm quen với chúng không khó. Đơn giản nhất vẫn là việc hành ngày cung cấp thức ăn cho chúng.
Tuy nhiên, ta cố gắng tạo môi trường yên tĩnh và không gây ra trạng thái giật mình đối với chúng. Trong những ngày mới đưa nhím về nuôi, ta nên hạn chế việc ngắm nghía, quan sát, chỉ trỏ. Tránh việc có nhiều người đến thăm vào lúc này. Tránh những tiếng động mạnh gần khu nuôi nhím. Cố gắng tạo ra không gian yên tĩnh trên cả trại nuôi nhím. Sau một thời gian, nhím sẽ quen với người chủ vẫn hàng ngày cho chúng ăn. Lúc này ta có thể vào chuồng vệ sinh một cách dễ dàng. Nhím con sau một tháng bú mẹ, có thể tách chúng ra. Ta nhốt chúng trong một ô khác.
Mỗi ô có thể nuôi 2 -3 nhím con. Ta nuôi chúng thêm một tháng nữa là có thể xuất bán giống. Để bắt riêng từng con, ta dùng vợt bằng dây gai hoặc lùa chúng vào rọ. Khi tiến hành phải cẩn thận vì gai nhím rất sắc. Nếu bị gai nhím châm vào da, ta sẽ thấy rất buốt. Vì vậy, khi bắt chúng, ta nên dùng găng tay phòng hộ bằng bạt.
c, Thức ăn
Thức ăn của nhím rất phong phú, cái gì chúng cũng ăn được, từ trái cây, lá cây, rễ cây, củ chuối, vỏ quả, rau dừa, ngô, sắn tới côn trùng, ốc, sâu bọ, giun đất…chúng đều ăn tất. Nhím là loài ăn tạp, ở vùng cao, nhím thường ra nương rẫy phá hoại cây trồng.
Nếu ta nuôi, ta cần chủ động dự trữ thức ăn. Ngoài các loại lá cây, ta nên có một số thức ăn dự trữ. Trong vườn nên có các loại cây cho lá, cho quả, cho củ. Ngoài ra cần dự trữ bí ngô, khoai, sắn, ngô hạt trong kho.
Ở một số nơi, đặc biệt là bà con ở khu vực thành phố và thị trấn, rất hiếm các loại thức ăn lá cây, củ, quả. Họ đã cho nhím ăn cả cơm nguội. Kết quả cũng rất tốt. Mỗi ngày cho một con ăn 3 lạng cơm nguội là cũng đủ để chúng phát triển bình thường. Ta nên trộn thêm vào cám các thực phẩm giàu dinh dưỡng hơn như gạo, đỗ, bột cá..vv.. Đặc biệt khi nhím mang thai và sau khi đẻ, lúc mà nó cần tăng cường dinh dưỡng ta nên cho ăn khẩu phần tốt hơn.
Nên cho nhím ăn nhiều loại thức ăn. Đối với một con nhím trưởng thành, lượng thức ăn cần cho một ngày là:
- Thức ăn thô: 0,5kg/con/ngày (ngô, sắn, hạt dẻ, hạt gắm, bí ngô…)
- Thức ăn giàu vitamin: Ngoài lá cây, ta cho ăn thêm ổi xanh, chuối xanh, mơ, mận, quả sung, me…
- Thức ăn khoáng:
+ Muối 2 – 3g/con/ngày
+ Xương trâu, bò: 100 – 200g/con/ngày
Ta cần quan sát khi cho nhím ăn. Chúng thích ăn loại thức ăn nào thì cho thêm loại thức ăn ấy. Nếu chúng ăn hết nhanh thì cần tăng thêm thức ăn. Nếu thấy chúng ăn thừa nhiều thì rút bớt khẩu phần đi.
Do thức ăn của nhím là các loại rau, quả chứa nhiều nước nên không cần cho chúng thêm nước uống. Tuy nhiên, có thể để một dụng cụ chứa nước nhỏ để cung cấp thêm cho nhím khi cần.
Thực tế cho thấy, nếu có nước, nhím vẫn mò ra uống hàng ngày.
Tập quán của nhím là đi kiếm ăn vào ban đêm và ngủ vào ban ngày. Vì vậy chúng thường ăn vào ban đêm. Do đó, ta nên cho nhím ăn vào chiều tối (bữa chính) và buổi trưa (bữa phụ). Khi cho nhím ăn là điều kiện tốt nhất để người nuôi gần gũi với đàn nhím. Ta nên tận dụng thời cơ này để tranh thủ thân thiện với chúng. Nên tạo phản xạ cho nhím bằng cách cho chúng ăn đúng giờ. Ta quy định một giờ nhất định và hàng ngày chỉ cho nhím ăn vào giờ đó. Không nên đổ ào ào thức ăn vào một lúc mà nên cho ăn dần dần, hết lại cho thêm. Chính động tác cho thêm thức ăn này rất dễ lấy lòng đàn nhím. Thậm chí, chúng còn to thái độ “nịnh nọt” để xin chủ cho thêm thức ăn.
Đối với nhím sinh sản, không nên vỗ cho chúng quá béo, chỉ nên tăng trọng khoảng 1kg/tháng. Nếu béo quá dễ bị lú không đẻ được. Nhưng tới lúc chúng mang thai, ta phải tăng cường thêm thức ăn tinh cho chúng. Cố gắng đảm bảo đủ lượng xương cho chúng gặm hàng ngày. Cần thay đổi loại thức ăn để chúng có đủ chất. Tuy nhiên, luôn luôn phải đảm bảo lượng thức ăn xanh cho chúng.
Sau khi sinh khoảng 1 tuần là nhím con đã tập ăn. Nó gặm mọi thứ mà mẹ nó đã ăn. Nó vừa bú mẹ, vừa ăn thêm các loại thức ăn khác. Vì vậy, nó rất nhanh cứng cáp.
Ở những nơi không sẵn thức ăn, ta phải quan tâm tới việc dự trữ. Ngoài thức ăn xanh cung cấp hàng ngày, ta nên dự trữ bí đỏ, khoai, sắn, ngô hạt, xương động vật đã phơi khô,…
Vào mùa đông, thời tiết ở Tây Nguyên và phía Bắc rất lạnh. Nhím sẽ nằm lỳ trong tổ hoặc trong ổ lót, không chịu ra ăn. Vì vậy, nếu hôm nào ấm áp, Nhím thò ra ăn thì phải cho chúng ăn những thức ăn bổ dưỡng.
Một điều cần quan tâm, đó là việc phải rửa sạch các phụ phẩm nông sản trước khi cho Nhím ăn. Hiện nay, việc dùng thuốc trừ sâu khá bừa bãi. Dư lượng thuốc trừ sâu trên nông sản là rất lớn. Vì vậy, khi thu các sản phẩm này về cho nhím ăn ta phải rửa thật kỹ, thật sạch, tránh gây ngộ độc trong Nhím. Thức ăn là khâu then chốt khi nuôi Nhím, vì vậy cần hết sức coi trọng.


d, Chăm sóc
Tuy Nhím là loài vật hoang dã, khả năng thích ứng rất cao, nhưng khi nuôi chúng, người nuôi cần phải chú ý tới khâu chăm sóc.
Công việc đầu tiên mà ta phải làm thường xuyên là giữ vệ sinh cho chuồng trại. Con vật nuôi nào cũng thích ở sạch hơn ở bẩn, nhím cũng vậy. Hàng ngày, ta phải quét dọn hết phân rác và mẩu thức ăn thừa vương vãi trong ô nuôi. Nhím thường đi vệ sinh vào một góc chuồng nhất định. Nếu con nào không giữ đúng nề nếp đó thì ta phải tập. Ta vun phân vào một góc nhất định, Nhím rất thính mũi, nó sẽ tìm đến chỗ có mùi phân để đi vệ sinh.
Về mùa hè, hàng ngày nên tắm cho nhím kết hợp với việc rửa sạch chuồng. Có người cho rằng Nhím sợ nước. Điều đó không đúng. Nhím cũng rất thích được phun nước tắm hàng ngày.
Lúc đầu, có thể chúng chưa quen và có biểu hiện hốt hoảng. Nhưng chỉ sau vài lần phun nước tắm cho chúng là chúng quen ngay. Thậm chí, chúng còn đòi hỏi ở chủ nữa. Ta vừa tắm cho Nhím vừa phun sạch nước tiểu và rác rưởi ra ngoài. Do nền chuồng ta xây nghiêng 3 độ về phía rãnh, nên nước thải và phân rác sẽ ra hết. Chú ý, không để lưu cữu nước ở trong chuồng hoặc trong rãnh thoát để tránh ruồi muỗi.
Do xây chuồng chỉ dài 1,5m nên ta có thể dùng một chổi cán dài để quét dọn từ phía ngoài. Nhưng khi muốn vào trong chuồng để sửa sang hoặc thu dọn thì ta nên cẩn thận. Đặc biệt, khi mới đưa Nhím về, do chưa quen nên ta càng phải giữa gìn, nên đi ủng khi vào chuồng. Bản năng tự vệ có thể sẽ khiến nhím dịch ngang hoặc rẩy lông vào ta. Lông nhím rất sắc, nếu ta chạm phải sẽ bị buốt mấy ngày. Nhưng khi đã quen, đặc biệt là việc cho ăn hàng ngày, Nhím sẽ rất nhún nhường. Ta có thể ngồi bón trực tiếp thức ăn cho chúng. Cũng có thể vừa cho ăn vừa vuốt ve, thậm chí có thể bế chúng lên. Khi đã quen nhau, nhím cũng thân thiện với chủ giống như đàn chó. Có gia đình còn cho nhím ra khỏi chuồng sau khi đã thuần hóa. Chúng cũng chẳng bỏ đi xa,chỉ quẩn quanh nhà. Đặc biệt nó rất thích đi theo chủ…
Ta phải chú ý đảm bảo đủ lượng và chất của thức ăn cho nhím, không nên chỉ cho chúng ăn một loại thức ăn. Hàng ngày nên đổi món hoặc cho nhím ăn nhiều loại thức ăn. Nhím là loài thú lớn nhất tong bộ gặm nhấm. Chúng ăn rất khỏe. Càng ăn nhiều, chúng càng lớn nhanh. Thức ăn càng tốt, nhím càng tăng trọng. Ngoài thức ăn xanh, ta luôn phải cho chúng ăn thêm thức ăn tinh (như khoai, sắn, ngô hạt, bí đỏ…) và xương động vật.
Cần giữ gìn không khí yên tĩnh ở khu nuôi. Đặc biệt, khi mới đưa nhím về, nó rất nhát, có tiếng động mạnh là nó hoảng loạn và cuống cuồng bỏ chạy. Vì vậy, không nên gây ra những tiếng động mạnh. Thậm chí không nên nói to hoặc cười đùa cạnh chuồng nhím. Nên bố trí khu nuôi nhím xa với đường cái – nơi ô tô và xe máy thường qua lại.
Tập tính của nhím là hoạt động vào ban đêm, ngủ ngày, do đó cần giữ yên giấc ngủ ngày cho chúng. Đặc biệt, sau bữa ăn buổi trưa (bữa phụ), ta nên dọn rửa sạch chuồng và tắm cho nhím. Sau đó giữ yên tĩnh để chúng ngủ liền một giấc tới chiều. Được như vậy, đàn nhím rất thỏa mãn.
Hầu như nhím nuôi chưa thấy xuất hiện bệnh tật gì. Các cơ sở nuôi do chúng tôi chỉ đạo đều không thấy nhím bị bệnh. Có lẽ khả năng thích ứng của nhím cao, nên ít bị bệnh tật. Tuy nhiên việc giữ gìn vệ sinh và phòng bệnh cho nhím cũng phải luôn được coi trọng. Đặc biệt là khâu thức ăn và khâu chuồng trại. ta không nên cho chúng ăn các thức ăn mà đã ăn dở từ hôm trước. Phải chú ý rửa thật sạch các nguồn thức ăn xanh mà chúng ta lượm về. Nên thường xuyên cho chúng ăn thêm một số chất chát (như ổi xanh, chuối xanh, lá của một số loại cây có chất chát…). Không nên cho chúng ăn toàn thức ăn tinh giàu đạm. Mặt khác, nguồn xương động vật phải được rửa sạch, phơi thật khô và giữ gìn tốt để cho chúng ăn dần.
Chuồng trại phải hợp vệ sinh, giữ được độ ấm cao vào mùa đông và mát vào mùa hè. Chuồng luôn luôn phải được dọn sạch sẽ. Không để nước bẩn lưu cưu trong chuồng. Định kỳ hàng quý ta quét vôi lại toàn bộ khu vực chồng trại và phun thuốc diệt khuẩn. Giữ được như vậy, đàn nhím sẽ khỏe mạnh. Khi nhím đẻ, phải lưu ý nuôi riêng ra từng đàn. Lúc này, tính ích kỷ của chúng lên cao, có thể cắn chân con của đàn khác thò sang ô của chúng. Phần phân cách sát mặt đất giữa các ô phải được bịt thật kín, chỉ cần cao 20 – 30cm là đủ.
e, Sinh sản

Thường thường, nhím sống riêng biệt, mỗi con cát cứ một vùng. Chỉ tới mùa sinh sản chúng mới gặp nhau để cặp đôi.
Trong tự nhiên, mỗi năm nhím chỉ đẻ 1 lần vào tháng 4- 5 hoặc tháng 10 – 11. Số lượng con mỗi lần chỉ khoảng 1 – 3 con.
Hiện nay, tại các cơ sở nuôi, nhím đẻ chủ yếu là 2 con/lứa. Cũng có con chỉ đẻ 1con hoặc 3 con/lứa. Tuy nhiên, 1 năm chúng đẻ được 2 lứa. Điều quan trọng là phải phân biệt được nhím đực với nhím cái. Ta phải nhốt riêng nhím đực và nhím cái ra. Để phân biệt nhím đực và nhím cái, ta làm như sau: bắt nhím cho vào một rọ hẹp hoặc quấn lưới xung quanh mình nó. Làm như vậy, để cho nhím không cử động được vì bị bó chặt. Sau đó, ta nhấc nó lên và lấy ngón tay gãi nhẹ vào cơ quan sinh dục của nhím. Để ý quan sát thấy, nếu dương vật thò ra là nhím đực, còn nếu không có biểu hiện nhô lên là nhím cái.
Cách kiểm tra này rất đơn giản nhưng chính xác và dễ tiến hành. Tuy nhiên, khi chạm vào cơ thể của nhím, ta phải hết sức cẩn thận. Lông của nhím rất sắc, nếu bị châm vào, tay sẽ rất buốt. Ta có thể dùng găng phòng hộ bằng bạt để đeo. Làm như vậy, sẽ an toàn hơn. Rất nhiều chủ trại do làm quen được với nhím qua việc chăm sóc, cho ăn, cho uống hàng ngày nên có thể bế chúng lên, vuốt ve và chủ động xác định nhím đực, nhím cái một cách dễ dàng.
Ta cũng có thể phân biệt, nhím đực, nhím cái qua điệu bộ. Nhím đực thường hung hãn, dữ dằn hơn. Nó hay xù lông, rung chuông ở đuôi và chân đạp phành phạch xuống nền. Trong lúc đó, nhím cái hiền lành hơn. Khi có người lạ xuất hiện, nhím đực thể hiện ngay tính khí của mình, còn nhím cái lại núp sau nhím đực để trốn.
Ta nuôi con đực, con cái riêng ra, mỗi con ở một ô. Tới khi thấy chúng có biểu hiện động dục, thì đưa chúng đến với nhau. Thường thường khi động dục, nhím cái đi lại loanh quanh trong chuồng và hít ngửu liên tục. Nếu ta động vào, chúng sẽ đứng yên và cong đuôi lên. Nhím cái sau khi đẻ 1 tháng đã có biểu hiện động dục, lúc đó có thể chúng còn đang nuôi con. Vì vậy, trước khi cho nhím đực vào với nhím cái, ta phải đưa nhím con ra chỗ khác. Đề phòng nhím đực có thể cắn chết nhím con.
Cử chỉ động dục ở nhím đực biểu hiện là chúng chạy lăng xăng quanh chuồng, mũi hít hít, ngửi ngửi, chân cào liên tục xuống sàn. Thỉnh thoảng chúng lại rít lên khao khát. Khi thấy chủ xuất hiện, chúng càng tỏ ra bức xúc để mong chờ sự giúp đỡ. Lúc này, ta cho nhím đực vào với nhím cái. Có nhiều cách để ghép nhím đực với nhím cái. Có nhiều cách để ghép nhím đực với nhím cái như:
- Ghép thành một đôi và nuôi suốt đời
- Ghép thành đôi nhưng sau một thời gan ta đổi đực, cái sang các đôi khác nhau.
- Ghép 1 đực với nhiều cái.
- Ghép nhiều đực với nhiều cái.
Nhiều cơ sở áp dụng cách thứ 2 (ghép thành đôi nhưng sau một thời gian ta hoán vị đực, cái giữa các đôi).
Khi động dục, nhím cái thường tiết ra một chất nhờn có lẫn máu. Ta có thể quan sát thấy điều này ở chỗ nuôi. Lúc đó, ta nên cho chúng gặp gỡ nhau. Khi gặp nhím cái, nhím đực thường thiếu bình tĩnh. Nó xông ngay đến để ve vãn. Nhím đực kiên trì với mọi cử chỉ uốn éo, đôi khi còn lấy chân vỗ nhẹ lên “người tình”. Nhím cái được thể càng “làm cao”. Nó ngúc ngoắc như không thèm để ý tới kẻ si tình và bỏ đi. Nhím đực lẽo đẽo chạy theo và không ngừng gia tăng cử chỉ “tỏ tình”. Chúng cứ chạy xoắn xuýt quanh nhím cái, giơ chân như nhận lỗi. Sau vài giờ, nhím cái mới chịu xếp các lông nhọn xuống, nằm sấp trên mặt đất để tiếp nhận tình yêu của con đực.
Ta cho nhím đực ở với nhím cái từ vài ngày tới một tuần. Thời gian đó đủ để nhím cái có thai. Sau đó ta đưa nhím đực ra nhốt riêng. Mỗi con đực phải đảm nhận phủ từ 2 – 5 nhím cái. Vì vậy, phải bồi bổ cho chúng, cho chúng ăn thêm giá đậu, thức ăn tinh và các loại thức ăn giàu đạm, giàu chất béo. Giai đoạn này chúng cũng rất phàm ăn.
Đối với nhím cái, sau khi mang thai, cần phải tăng cường dinh dưỡng cho chúng để chúng có nhiều chất nuôi thai. Cho chúng ăn tốt, nhím con đẻ ra sẽ bụ bẫm.
Chu kỳ động dục của nhím sẽ trong vòng 1 tháng. Chúng có thể giao phối với nhau 1 – 2 lần trong ngày. Khi nhím cái đã có thai, nó sẽ từ chối nhím đực giao phối tiếp.
Cần tính toán để xác định thời gian của nhím đẻ. Việc đẻ của chúng diễn ra không ồn ào không la hét. Nhím âm thầm đẻ trong đêm. Nhiều khi chúng đẻ rồi mà ta không biết. Nhím mẹ thường phủ con dưới bụng, để ủ cho chúng. Vài ngày đầu nhím con cần nhiệt độ ấm áp, khoảng từ 25 – 300
Sau một tuần, chúng mới thích nghi với nhiệt độ bên ngoài và bắt đầu chạy ra khỏi bụng mẹ. Rất nhiều người nuôi nhím không biết nhím của mình đã đẻ. Chỉ khi nhím mẹ chạy ra chỗ ta đổ thức ăn vào thì mới để lộ lũ con ra. Lúc này ta cần tăng cường việc chăm sóc cho cả nhím mẹ và nhím con. Nhím con bú sữa mẹ và lớn rất nhanh, mỗi tuần một khác. Sau 1 tháng, ta có thể cho nhím con tách mẹ. Nuôi chúng thêm một tháng nữa là có thể bán giống. Nhiều người nuôi cho nhím được 3 tháng tuổi mới bán. Lúc đó, chúng cứng cáp và lanh lợi hơn, trọng lượng có thể được 3 – 4 kg.

Nhím con nếu được nuôi tốt, sau một năm sẽ đạt được trọng lượng 10kg. Tới năm thứ 2, chúng có thể nặng tới 16 – 17 kg hoặc hơn nữa. Trọng lượng tối đa của nhím khoảng 20kg, song có gia đình ở Mộc Châu cho chúng tôi biết, họ dã nuôi được con nhím nặng tới 26kg.
 

ĐỂ CÓ THÔNG TIN CÁC LOÀI MỜI QUÝ VỊ LIÊN LẠC

PHẠM QUANG TÙNG
Điện thoại: 0983102789
email: quangtung@wildlife.org.vn

Giao dịch trực tiếp tại Hà Nội và các tỉnh lân cận tại địa chỉ:

Địa chỉ: Nhà A5 khu đô thị Đại Kim, Định Công, Hoàng Mai, Hà Nội. 04.666.33.574

Khách hàng ở xa có thể giao dịch và nhận hàng thông qua xe khách, tàu hỏa và máy bay
Ship hàng toàn quốc.

Hotline: 0912069138

Email: contact@wildlife.org.vn

www.dongvathoangda.com.vn hoặc www.lonrung.vn

Tin cùng loại

Get the Flash Player to see this rotator.

Lợn rùng

 

Thống kê

Trực tuyến: 23
Tổng truy cập: 690083

LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ BẢO TỒN ĐỘNG VẬT HOANG DÃ

Địa chỉ: Phòng 205, nhà A5, khu đô thị Đại Kim, Định Công, Hoàng Mai, Hà Nội
Tell : (+84) 04.666.33574 - FAX : (+84)04.3540.0709 - Mobile: 0962137963
Email : contact@wildlife.org.vn - Skype: phamquangtung_ffc
 

Thiết kế web bởi VNOSD